Just another free Blogger theme

Được tạo bởi Blogger.

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015



Tại một vùng nông thôn thuộc miền Đông bộ Thái Lan, có một nông phu tên là A Bang. Vợ A Bang sinh được ba con gồm hai nam, một nữ. Thằng đầu tên Ô được 9 tuổi, thằng kế tên Hồng 7 tuổi và bé út gái tên Bạch 5 tuổi.

Hôm nọ, hai vợ chồng A Bang đến dự lễ tiệc nơi nhà một người bà con, bỏ ba đứa nhỏ ở nhà. Nơi chúng ngụ là căn phòng bằng gỗ xây theo kiểu Thái. Cạnh phòng có chất một đống rơm khô. Ngoài ra còn có một máng xối hình chữ thập để hứng nước mưa và một hàng lu dùng để chứa nước uống.
Nhà ở các hộ nông dân nơi đây xây cách nhau rất xa, phân bố rải rác trong điền viên.

Ngày nọ căn phòng gỗ đột nhiên bốc cháy, láng giềng ở xa chỉ nhìn thấy khói đen bốc cao. Lửa vây kín nhà, cả tòa nhà gỗ chẳng mấy chốc bị thiêu rụi, ba đứa trẻ trong nhà do cổng khóa kín không thể chạy đi đâu.

Nghĩ là nước trị lửa, thằng Ô lần lượt bồng hai em đem bỏ vào hai cái lu to đầy nước và đậy nắp lại. Sau đó nó cũng nhảy luôn vào một cái lu khác để tránh lửa.

Khi bà con hàng xóm và nhân viên cứu hỏa chạy đến thì cả tòa nhà gỗ và bốn đống rơm đã cháy rụi hoàn toàn, còn thiêu chết con bò bị cột, nhưng không thấy dấu vết trẻ con đâu cả. Mọi người đều cho rằng chúng đã chạy thoát hết rồi.

Khi hai vợ chồng A Bang hay tin trở về, họ hoảng loạn tìm con, tìm đến tối mịt vẫn không tìm ra được.

Sáng hôm sau, một người bà con là Luân Bao cũng đến phụ tìm mấy đứa trẻ. Giống như có biết trước, ông vội chạy đến lu nước, giở nắp ra thì kinh ngạc hét to. Vợ chồng A Bang nghe tiếng kêu, tức tốc chạy đến xem thì thấy thi thể của thằng Ô con trai đầu. Luân Bao lại mở tiếp vài cái lu nữa thì lần lượt phát hiện ra xác của Hồng và Bạch. Lúc này, do quá đau lòng và sốc, hai vợ chồng A Bang ngã xuống đất ngất xỉu.

Báo chí và hầu hết các đài truyền hình đều đăng tin thương tâm này. Lúc đó ký giả đài truyền hình phỏng vấn, hỏi Luân Bao vì sao ông biết ba đứa trẻ chết ở trong lu?

Luân Bao đáp:

- Đêm hôm lửa phát cháy, tôi đang ngủ ở nhà mình, bỗng mơ thấy cảnh mọi người đều chạy đi tìm các cháu nhỏ. Tự dưng có một lão già chưa từng quen biết, râu trắng dài tới ngực đến bảo tôi: - Bầy cá ở trong lu nước! Khi tỉnh dậy, thấy giấc mơ kỳ lạ quá, tôi mới vội vàng chạy sang nhà A Bang xem thử, nhào tới mở mấy nắp lu ra, không ngờ lại thấy thi thể các cháu ở trong đó…

Nghe Luân Bao kể đến đây thì A Bang hét to một tiếng rồi ngất xỉu trên đất. Khi được cấp cứu tỉnh lại, đôi mắt ông như vô hồn, nhìn ngây ngây dại dại về xác ba đứa con rồi lẩm bẩm nói một mình: - Báo ứng! Là báo ứng mà!...Huhuhu…..

Mọi người ai cũng nghĩ do ông thương tâm quá độ nên thần trí mê muội nên chẳng ai dám hỏi gì nữa cả.

Theo tập tục ở nông thôn, hễ nhà nào có chuyện là mọi người đồng tâm hiệp lực xúm lại giúp đỡ, phụ chôn cất các con A Bang.

Vợ chồng A Bang nội trong một ngày mất nhà, mất cả ba đứa con cưng, đành nương náu tạm một nơi ở khác một thời gian. Tài sản tích chứa đều bị làm mồi cho lửa. Hai vợ chồng gặp phải gia biến thảm sầu, họ thấm thía lý vô thường: buồn, vui, ly, hợp ở thế gian nên không còn thấy tha thiết gì nữa, không chút do dự họ đồng xin xuất gia.

Ai cũng hiểu và cảm thông cho họ. Nhưng mọi người cứ thắc mắc hoài vì sao cứ nghe A Bang luôn miệng nói hoài hai chữ: “Báo ứng, báo ứng!”….Ông vốn là một nông dân trung hậu cần lao, nhưng đã làm gì để bị tai họa nặng nề như thế? Thật là khiến cho người ta khó hiểu?

Chỉ có A Vu, em vợ A Bang là biết rõ. A Vu nói:

- Anh Bang sống luôn biết giữ hòa khí, nhiệt tâm giúp đỡ người khác. Anh chỉ có tính là rất thích ăn ngon và tự mình chế biến món “Rau dồn cá” – mà chính A Vu đã nhiều lần phản đối kịch liệt cái món này vì nó quá…tàn nhẫn.

Thái Lan là xứ gạo, cá. Vào mùa xuân, mỗi lần gặp mưa dông là thời kỳ cá đẻ trứng. Mười mấy ngày sau, cá con lớn bằng đầu đũa, A Bang thường dùng vải mùng may thành vợt để lùng bắt đám cá con này. Ít thì mười mấy con, nhiều thì hơn trăm mạng, sau đó anh bỏ cá con vào thùng nước.


Lúc cần nấu, anh chọn các cọng rau to lòng, cắt bỏ các đốt mấu đi thành một ống trống suông. Sau đó đổ nước lạnh vào trong nồi, thả rau và đám cá con đang sống vào, chụm lửa nhỏ riu riu. Do nước lạnh từ từ chuyển nhè nhẹ sang nóng, nên ban đầu đám cá hồn nhiên tung tăng bơi lội. Nước ấm dần rồi tăng nhiệt độ, đám cá hốt hoảng gặp lòng rau rỗng liền chui vào đó để trốn nóng….

Tận mắt chứng kiến cảnh lũ cá con bị giết khá tàn nhẫn chỉ vì một miếng ăn, thương chúng chết thảm thương nên A Vu đã khuyên can, nhưng hai vợ chồng A Bang chẳng mảy may động lòng trắc ẩn. Ngược lại còn cảm thấy tự hào vì mình biết tự sáng tạo ra món ăn cực kỳ đặc biệt và ngon. Mỗi một khúc rau trống đều có một đám cá chui vào, đem ra trộn với gia vị thì ăn ngon cực kỳ, không gì sánh được.

Có lần A Bang đang làm ruộng, anh dùng lưới vớt hết bầy cá con, bỗng nhiên có hai con cá lớn (dường như là cha mẹ của chúng) cũng nhảy theo lên. Có thể do nhìn thấy bầy con chúng bị bắt đem đi nên chúng bi thống cực điểm mà nhảy lên tự sát kháng nghị. A Bang lúc này nhân tính mê muội, cho rằng tự nhiên lại có được thêm của bất ngờ, liền bắt luôn hai con cá đó đem về nhà làm thịt ăn.


Con người vốn quen tạo sát nghiệp ác độc, là do lương tâm bị vùi lấp mê muội. Chỉ khi nào thấy cha mẹ, vợ chồng, anh em, con cái mình chết…mới bắt đầu than khổ, gào lên khóc lóc, trách trời trách đất đau đớn thảm sầu. Chẳng hề nghĩ đến loài vật cũng có tình nghĩa quyến thuộc như mình, cũng đau đớn, oán hận khôn nguôi…

Như nay báo ứng Nhân Quả hiện tiền, xoay chuyển trở lại với A Bang khiến hai vợ chồng anh phải gánh niềm đau chôn con, nếm mùi khổ tự thân chứng kiến cả ba đứa con mình phải chết – nào có khác gì việc anh từng làm đối với bầy cá con kia đâu? Vì vậy mà khiến anh cứ lảm nhảm hoài hai chữ “Báo ứng, báo ứng!”.

(Trích từ quyển Báo ứng hiện đời – Hạnh Đoan dịch)

Nguồn: Tổng hợp trên webtretho


Tôi có quen một "thầy bói" rất nổi tiếng ở Hải Phòng. Thầy nói với tôi, trong mấy chục năm xem số cho người, phàm những ai giàu sớm thì thường chết sớm hoặc cuối đời không đâu vào đâu cả. Khi đó tôi không hiểu vì sao, hỏi thầy, thầy cười bảo : "Trẻ nó sướng, cái gì trên đời nó cũng hưởng rồi, còn gì nữa mà không chết quách"

Sau này tôi mới nghiệm ra, quả vậy, đàn ông có tiền thì thường sa đọa, nhất là những người trẻ. Vì có tiền trong tay khi còn trẻ, đàn ông thường tìm đến rượu và gái. Tuyệt đối không nằm ngoài hai thứ này, chúng nó luôn đi cùng với nhau, gái rượu rượu gái, 1 đôi bạn thân. Rượu và gái không chỉ cướp đi sức khỏe mà nó còn cướp đi cả hạnh phúc gia đình và sự nghiệp đang thăng tiến. Thử nhìn lại xem bao nhiêu quan chức trong và ngoài nước bị bắt, bị thất thế, bị khống chế đều "vì gái quên thân". Bao nhiêu gia đình hạnh phúc cũng tan nát đều "vì dâm phục vụ". Trong phạm trù nhà Phật mà nói, đó gọi là tự đánh mất phước báo của mình.


"Đại phú do trời, tiểu phú do cần", có người sinh ra trong nhung lụa, có người mở mắt đã là ăn xin, khi sinh ra con người chẳng thể chọn được. Đó là phước báo. Phước báo có tuần hoàn, có tăng trưởng và có tiêu diệt. Vậy làm thế nào để phước báo được tăng trưởng?


Bill Gates biết làm từ thiện ngay khi kiếm được những đồng đô la đầu tiên từ phần mềm. Khi tài sản chưa là gì so với giới tỷ phú Mỹ, Bill đã nổi tiếng với việc làm từ thiện chuyên cần, không dùng đồ sa sỉ và tiệc tùng nhậu nhẹt. Đến nay tài sản của Bill tăng dần từ vài tỷ lên đến hơn 80 tỷ USD, không một ai vượt qua được Bill trong suốt vài thập kỷ qua. Và ông vẫn tiếp tục làm từ thiện đều đều.


Còn ai có phước báo lớn hơn những ông hoàng, bà chúa thời phong kiến khi xưa. Nhưng tại sao hầu hết các triều đại phong kiến đều kết thúc với những cái chết nhục nhã, lẩn trốn và kiệt quệ. Bởi vì hầu hết các triều đại vua chúa, cuối cùng đều đắm chìm trong rượu và gái.


Có thể còn đó những nguyên nhân khác nữa nhưng tựu chung lại nói rằng khi đó phước báo đã hưởng hết rồi! Ngay như cá nhân tôi cũng từng chứng kiến nhiều gia đình bè bạn là đại gia, thậm chí từng là nguyên thủ quốc gia; cũng không có ăn chơi sa đọa nhưng đến cuối đời cũng rơi vào cảnh túng quẫn bần hàn. Bởi vì phước báo họ đã hưởng hết mà không biết cách chăm sóc, vun trồng phước báo mới... Trong cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua biết bao đại gia đã thành kẻ không nhà, đời người chỉ trong một chớp mắt, tất cả đã thành bình địa.


Khi xưa Phật Tổ dạy con người để giữ được phước báo, tài sản ta kiếm được thì hãy chia thành 4 phần:


Một phần để sử dụng hàng ngày, sinh hoạt, kinh doanh.
Một phần để dự trữ phòng khi bất trắc.
Một phần để giúp đỡ bà con quyến thuộc, người nhà.
Và một phần để làm từ thiện, công đức.


Như vậy có tới 2 phần là để làm từ thiện, để cho đi. Không biết tay Bill Gates có phải là Phật tử không mà lại làm đúng như vậy. Điều ngược đời là muốn giữ được phước báo thì lại phải cho đi thật nhiều, chứ không giống như quan điểm của đại đa số người đời là anh muốn ôm cả đất, anh muốn ôm cả trời. Làm từ thiện, làm công đức không phải chỉ cho bản thân mà còn cho cả con cháu sau này. 

Nguồn: Tổng hợp trên webtretho


Trong một cuốn sách phong thủy do ông Man-Ho Kwok viết, ông có kể vài câu chuyện như sau :

Vài thế kỷ trước ở bên Tàu, có một ông thầy Địa lý rất nổi tiếng, nhưng tính tình ông này thì rất hẹp lượng và nóng tính. Vào một ngày của mùa hè ông ta được lệnh của Vua đi tìm long mạch và Huyệt kết cho nhà vua dùng làm nơi xây mồ mả tổ tiên.

Thời kỳ đó phương tiện giao thông khó khăn nên phần đông người ta đi ngựa và đi bộ mà thôi. Sau nhiều ngày băng rừng vượt núi, ông thầy đã tìm được huyệt quý. Ông ta vui mừng trở về phúc trình với Hoàng đế. Trên đường về , ông ta đã cạn hết lương thực và nước uống, giữa vùng rừng núi hoang vu, ông ta không biết tìm đâu ra được mạch suối ngầm để lấy nước uống giữa mùa hè nóng bỏng.

Trong cơn tuyệt vọng, ông ta đến được một khu rẫy. Chủ nhân là một người đàn bà trung niên và 3 người con trai đang cuốc đất. Ông ta mừng quá chạy ngay vào xin nước uống. Người đàn bà vui vẻ đi lấy cho ông ta một bát nước đầy. nhưng trước khi đưa bát nước cho ông ta, bà hốt một nắm lá cây bỏ vào bát. Ông thầy rất giận nhưng vì đang khát, ông ta cũng ráng dằn xuống mà uống hết bát nước cho qua đi cơn khát. trong bụng ông ta đã có ý định trả thù người đàn bà vô lễ kia. Sau khi hỏi thăm ông ta biết được chồng của người đàn bà nghèo khổ kia đã chết vài năm trước, để lại cho bà một mảnh đất hoang và 3 đứa con nhỏ. Ông ta tự giới thiệu tên và cho biết ông ta là một nhà phong thuỷ nổi tiếng làm việc cho triều đình. Ông ta bảo muốn coi giúp về phong thuỷ của căn nhà của người đàn bà tội nghiệp kia.

Sau khi quan sát căn nhà và cấu trúc địa lý xung quanh , ông ta bảo căn nhà của bà không tốt, nếu sống ở đó thì suốt đời nghèo khổ vất vả. Rồi thì ông ta bảo cho người đàn bà biết rằng, ông ta biết được có một căn nhà bỏ hoang lâu đời với đất đai rộng rãi ở bên kia núi, ông ta khuyên người đàn bà nên dọn về đó ở sẽ tốt hơn. Ông ta nói xong thì vội vã bỏ đi, trong lòng vui sướng vì đã trả được thù, khu đất và căn nhà hoang không chủ mà ông ta chỉ cho người đàn bà là một khu đất chết phạm vào Ngũ Quỷ xung sát, là một khu đất cực xấu, ai sống ở đó đều chết yểu.

Sau một thời gian khá lâu, ông ta có dịp đi ngang qua vùng đất cũ, ông gặp lại người đàn bà và ông ta hết sức kinh ngạc vì người đàn bà nghèo khổ ngày xưa bây giờ là một người đàn bà giàu có, nhà cao cửa rộng. Người đàn bà đón tiếp ông rất ân cần vì biết ơn ông đã chỉ cho bà một khu đất tốt, từ khi dọn vào, bà luôn luôn trúng mùa, tiền bạc dư giả, con cái học hành tới nơi tới chốn, 2 trong 3 đứa con trai đang làm quan, đứa con thứ ba thì thông minh xuất chúng, đang dạy học và rất có tên tuổi. Ông ta kín đáo quan sát căn nhà, và vùng đất xung quanh, tuy có sang trọng hơn nhưng trên căn bản vẫn là vùng đất phạm Ngũ Quỹ xung sát (Five Ghosts Dead Place )

Lòng càng hoài nghi dữ dội, cuối cùng ông ta thú thiệt về việc trả thù của ông ta vì ngày xưa người đàn bà đã vô lễ bỏ lá rác vào bát nước trước khi trao cho ông uống. Người đàn bà giải thích rằng, sỡ dĩ bà ta làm như vậy là vì lúc đó trời đang nóng bức, ông ta lại đang khát sắp chết, nếu trao cho ông ta bát nước bình thường thì ông ta sẽ uống cạn ngay, sẽ khiến ông ta bị sốc mà bị nguy hiểm đến tính mạng , cho nên bà bỏ lá cây khô vào là để ông ta từ từ uống vì phải vừa uống vừa gạt bỏ lá qua một bên.

Đến lúc đó ông thầy mới chợt hiểu, vì những gì bà làm để cứu mạng của ông ta đã tạo nên công đức, đủ để hoá giải đi cái ảnh hưởng xấu của vùng đất chết. Cũng như chuyện anh học trò nghèo có tướng phải chết nhưng lòng hiếu thuận và can đảm vì người mà quên mình của anh đã thay đổi đi cái số mạng yểu tử bần hàn mà sau này đỗ đầu bảng vàng, trạng nguyên vinh quy bái tổ.

Ngược lại, dù có chọn các thầy cao thủ, kiếm phong thủy cho nhà cửa thật tốt chăng nữa mà tâm xấu ác thì Phong thủy cũng chả giúp được gì. Tai họa vẫn trên trời rơi xuống. 

Việc tốt hay xấu đến với ta không thể do phong thủy quyết định mà chính tư tưởng và hành vi thiện ác của mình mới là nguyên nhân quan trọng. Thế mới có câu "Đức năng thắng số".

Nguồn: Tổng hợp trên webtretho


Có một phụ nữ hơn 50 tuổi, từng niệm Phật nhiều năm, hiện đang mắc bệnh tiểu đường. Hòa thượng Diệu Pháp bảo là do bà sát sinh quá nặng mà chiêu cảm nên.

Bà kể mình hồi nhỏ nhát gan, ngay cả con sâu cũng không dám giết. Khi Sư phụ hỏi bà có thường ăn thịt cua sống ven biển hay không? Bà kinh ngạc sững người. Liền khai ra mọi sự.

Con gái bà được phái qua Nhật Bản mấy năm, năm nào cũng rước bà qua Nhật chơi một tháng, do bà không ăn thịt, nên con gái bà tuần nào cũng lái xe đưa bà ra nhà hàng hải sản tươi sống ven biển. Còn giải thích là ăn thịt cua chưng cách thủy, đâu do mình giết nó.

Hòa thượng Diệu Pháp bảo bà: - Những con cua biển đó nhân vì thực khách đòi ăn, nó mới bị bếp sư hấp chết.

Ngài lại bảo: - Những món này dù là khi mua bà thấy nó đã chết, hay dù mua từ ngăn đông lạnh, hoặc được người làm xong cho bà ăn chín, nếu nói một cách nghiêm nhặt, đều tính vào tội tạo nghiệp sát sinh cả. Bởi vì nếu như người ăn giảm thiểu, thì hành vi sát cũng ít đi. Nói cho rốt ráo thì ăn thịt động vật chính là tạo nghiệp sát sinh!

Sư phụ thấy bà vẫn còn ngơ ngác chưa hiểu, liền khai thị tiếp:

- Có người sát sinh rất nhiều, thậm chí chỉ làm công việc “phụ sát sinh”, nhưng hiện tại thấy họ rất mạnh khỏe. Song có người mới giết qua một lần loài động vật nào đó, hoặc vừa mới ăn qua loại thịt nào đó, thì bệnh lại phát ra.

Nguyên nhân là do nghiệp lực và phước báo mỗi cá nhân tích lũy không đồng. Giống như có người mỗi ngày uống 1 cân rượu trắng, ngày ngày đều uống, trong thời gian ngắn vẫn không sao, nhưng có người ngay cả nhấm chút rượu thậm chí đến rượu bia cũng không uống được, hễ uống là say. Đây chính là do mỗi cá nhân tửu lượng không đồng.


Nhưng đối với hạng người có sở thích không tốt, ưa tạo nghiệp sát sinh, ưa ăn thịt động vật, thì sớm muộn gì quả báo cũng đến! Vì tham ăn ngon, muốn khoái khẩu mà người ta mặc tình tàn sát động vật, do thèm ăn mỹ vị máu tanh mà tự chiêu vào mình mồng mống oán hận, họa tai. Nên nói: “Bệnh từ khẩu nhập” là vậy.

Hòa thượng lại hỏi bà:

- Nhà bà có lư hương đồng giả đồ cổ không?

- Dạ có, bà lộ vẻ rất kinh ngạc, hai mắt nhìn Hòa thượng trân trối.

- Bà cất nó ở đâu?

- Hình như trên sân thượng!

Khi bà về mau lấy rửa sạch để ráo. Phàm là đồ cúng, nếu không dùng, cần bảo tồn, xử lý cho ổn. Hoặc là chuyển tặng cho người, đừng tùy tiện đặt để bừa bãi, như vậy là không cung kính.

Hòa thượng nói tha thiết: - Tôi đã nhắc bà hai điều, nếu như biết lỗi sám hối, bệnh bà sẽ dần chuyển tốt.

Nếu muốn thật sự khỏe mạnh, thì nên dứt hẳn thịt cá, ăn chay trường. Ăn thịt chúng sinh mà niệm Phật, là tham dục chẳng đoạn, tội lỗi không đoạn. Danh hiệu Phật và tâm khó thể tương ưng. Dù niệm hơn trăm năm cũng khó về cực lạc.

Tại Hương Cảng và ngoại thành Cửu Long thường có người đem tượng Bồ-tát Quán Thế Âm, Tổ sư Đạt ma, Tế công...Tùy tiện bỏ ngoài ven lộ. Làm thế là không cung kính. Xin hãy cẩn thận tránh điều này. Hy vọng quý vị biết sai liền sửa, Bồ-tát là người tự giác bổn tính, khéo phổ độ, như Địa Tạng Vương Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, đều là các bậc đại Bồ Tát hóa độ chúng sinh thoát ly khổ nạn.

Kiếp người nhiều đau khổ, may là trong biển khổ còn có Bồ Tát trợ giúp. Đời nay có thể được thân cận, nghe danh Bồ-tát chính là nhờ quý vị nhiều đời tu thiện căn, tạo phúc đức nhân duyên sâu, mới có được điều đáng quý khó được. Bồ-tát là đệ nhất bảo tàng trong nhân thế. Nếu quý vị đem tượng Bồ-tát vứt bỏ ngoài đường, nghĩa là vứt bỏ bảo tàng, đoạn mất duyên lành, tổn thất lớn nhất vẫn là bản thân. Thực rất đáng tiếc.

 Nguồn: tổng hợp trên webtretho.


Cô gái ấy lần đầu chống chọi trước miệng lưỡi thiên hạ đã không vượt qua được. Trong một lúc tôi sơ suất không trông nom kỹ lưỡng, cô treo cổ tự vẫn ngay vị trí người vợ trước của cha quyên sinh năm nào. Trong đạo Phật gọi là nghiệp chướng.

Câu chuyện này xin bạn hãy coi như lời khuyên răn, lời cảnh báo để không phải gánh chịu cái bi kịch như người yêu tội nghiệp của tôi.

Người yêu tôi sinh thời rất xinh đẹp, thông minh, khéo léo; không chỉ vậy cô ấy còn giỏi giang từ việc nấu ăn, thêu thùa, cầm kỳ thi họa. Dường như ông trời khéo đúc nên một người con gái tài hoa hơn người để xứng đáng với câu “Chữ tài đi với chữ tai một vần”. Lúc đã yêu thương một thời gian dài và có ý định tính đến chuyện trăm năm, tôi được biết mẹ cô ấy làm vợ lẻ cho cha. Cha cô ấy là một thương nhân thành đạt nhưng đào hoa, phong lưu có tiếng.

Năm xưa, mẹ cô sinh ra trong gia đình trung lưu, được dạy dỗ trong nền tảng gia giáo, khuôn phép; nhan sắc cũng thuộc dạng “sắc nước hương trời”, lại ăn học đàng hoàng, có khiếu ăn nói. Sau khi tốt nghiệp, mẹ cô làm thư ký ở một hãng buôn và gặp cha cô. Bị thu hút bởi người con gái duyên dáng, ông say đắm bà, dù lúc đó đã có một người vợ và con trai. Quen nhau sau thời gian dài, bà mang thai, ông vượt qua mọi định kiến xã hội, tình nghĩa vợ chồng, đạo lý làm người, nhất tâm bỏ vợ theo người tình.

Người vợ trong các gia đình khá giả ngày đó chỉ biết quán xuyến việc nhà cửa, cơm nước, chồng con; không phải đụng tay vào những công việc vất vả. Nên khi bị ruồng rẫy, bà vì đứa con trai mà quỳ lụy, van xin người chồng bội bạc đừng vứt bỏ gia đình; chấp nhận làm con sen, đứa ở dù chỉ để cho đứa con trai được sống no đủ trong gia đình sung túc, không phải bươn chải ngoài chợ đời. Mẹ cô dù cũng là người có lý lẽ, hiểu việc mình làm là sai trái nhưng vì tình yêu làm mê muội, hơn nữa vì bộ mặt của gia đình, sợ tai tiếng chửa hoang, bà cũng muốn tranh giành ông với người vợ trước, muốn ông bỏ vợ để đường đường chính chính cưới bà. Vì vậy, bà đã làm ngơ trước những hành động của ông.


Cha cô đối xử với người vợ trước vô cùng tàn nhẫn và ác độc. Ông sẵn sàng bỏ tiền ra mua nhà, xây dựng tổ ấm với người tình, cung phụng bao nhiêu vàng bạc châu báu, nữ trang quý giá. Song lại để vợ con mặc áo quần rách rưới, ăn cơm thừa canh cặn, ngủ sát cạnh chuồng heo, chưa kể những lời mạt sát, lăng mạ, sỉ vả ông dành cho người vợ chính thất của mình.

Uất ức và tủi nhục, bà treo cổ tự tử ngay trên cột nhà trước bàn thờ gia tiên trong tiền đường. Đứa con trai cũng mất tích từ đó, nghe đâu bỏ trốn, lang bạt tha hương. Rồi mẹ cô cuối cùng cũng được đón rước về căn nhà đó, nhưng không có lễ ăn hỏi. Rồi suốt mấy chục năm, bà không có lấy một danh phận vì gia đình chồng nhất quyết phản đối, lên án kịch liệt. Bởi muốn con gái lớn lên bình yên, bà không hề cho cô biết tất cả những gì đã diễn ra trong mối quan hệ bất chính giữa bà và cha cô, cùng những điều hãi hùng đã diễn ra trong căn nhà này.


Rồi như lẽ tất nhiên, cha cô ngoại tình, có năm thê bảy thiếp bên ngoài, con cái vô thừa nhận nhiều không kể xiết. Ông không dám đối xử với bà như với người vợ trước đây là do thời gian ông ăn chơi, đàn đúm bên ngoài khiến công việc làm ăn thất bát, gia đình vợ đã giúp đỡ để vực dậy việc kinh doanh. Chứng nào tật nấy, bà là người phải đứng ra giải quyết cho các vụ ăn vạ đòi cha, hậu quả do việc chơi bời. Bà phải dùng tiền bạc của cải trong gia đình để bịt miệng các người tình của ông nhằm giữ gìn uy tín và danh dự cho ông làm ăn.

Tuy vậy, ông vẫn tỏ thái độ ghẻ lạnh, khinh thường bà, bao tháng ngày cay đắng, bao canh đêm khóc thầm, bà vẫn nhẫn nhịn, ngậm bồ hòn làm ngọt để cho cô có một gia đình êm ấm. Tất cả điều này tôi biết được khi dẫn cha mẹ đến thăm nhà chuẩn bị đám hỏi cho hai đứa.

Bà sau cùng đã kể câu chuyện đó với tôi như một lời giải thích về thân thế người con gái tôi yêu thương. Mong muốn tôi hãy trở thành người đàn ông chân chính, rộng lượng, vị tha, đón nhận đứa con gái ngây thơ, trong sáng của bà; làm chỗ dựa tinh thần vững chãi, cho cô ấy một vòng tay che chở, bảo bọc, đừng lặp lại bi kịch của cuộc đời bà cho cô ấy. Tôi đã hứa nhưng cô ấy không có phước phần để hưởng thụ.


Sự việc xảy ra khi cha cô đã qua lại với một người phụ nữ, người đó là bạn thân của mẹ tôi. Khi chồng bà ta phát hiện đã cùng cha mẹ tôi đến bắt quả tang ông và người phụ nữ kia có quan hệ tình ái. Cha mẹ tôi ngay sau đó đã nhận ra người đàn ông chính là người sắp trở thành thông gia quý hóa của gia đình, lập tức hủy hôn của chúng tôi. Người yêu tôi vô cùng đau khổ khi biết sự thật về cha mình, càng đau đớn hơn là cha mẹ tôi ngăn cấm chuyện hai đứa.

Quả thật “Họa vô đơn chí”, từ chuyện tò mò về các mối quan hệ của cha, cô đã khám phá ra sự thật khủng khiếp, cha đã “tòm tem” với bạn thân của cô, một người đáng tuổi con mình. Tệ hại hơn, vì căm thù, cha cắt đứt viện trợ cho cô bạn thân này và tiếp tục dan díu với người mới nên cô bạn thân cay cú đã rêu rao chuyện cha cô khắp cơ quan. Chính điều này đã xảy ra lời qua tiếng lại. Vin vào cái cớ người yêu tôi làm mất hòa khí trong cơ quan, gây mất trật tự, một số đối thủ đã rỉ tai cấp trên khiến cô bị đình chỉ công tác một thời gian để ổn định chuyện gia đình. Đây là vết nhơ làm mọi kế hoạch và công việc của cô trì trệ.

Mọi xét tuyển lý lịch để học tập hay kết nạp đều bị gán mác mối quan hệ gia đình phức tạp. Đối với một người lâu nay sống dưới cái mác gia đình hạnh phúc và lễ nghĩa nên gặp phải cú sốc này, người yêu tôi càng suy sụp. Đã vậy, có kẻ ganh ghét bới móc chuyện mẹ cô giật chồng người, làm gia đình người ta tan nát, đẩy vợ con người ta vào đường cùng; kẻ bỏ mạng, kẻ biệt tích khiến người yêu tôi hoàn toàn ngã gục. Cô không ăn không uống, tiều tụy, xơ xác.

Cô gái ấy lần đầu chống chọi trước miệng lưỡi thiên hạ đã không vượt qua được. Trong một lúc tôi sơ suất không trông nom kỹ lưỡng, cô đã treo cổ tự vẫn ngay tại vị trí người vợ trước của cha cô quyên sinh năm nào. Trong đạo Phật, điều này được gọi là nghiệp chướng.


Người mẹ sau khi mất con, ngày ngày quỳ dưới bàn thờ tổ tiên, ngay dưới vị trí treo cổ của cô con gái, tụng kinh niệm Phật. Nhưng người ta chỉ nghe tiếng mõ, còn đọc kinh, bà chỉ lẩm nhẩm ở trong miệng, vì hoàn toàn câm lặng. Từng con chữ lướt qua trên đôi mắt mờ đục vì cạn kiệt nước mắt, bà đọc từng chữ mà như nuốt hết vào tim, để lấp đầy khoảng trống về cô con gái thân yêu, nhưng chẳng biết đến bao giờ mới lấp cho hết được. Bà sống lầm lũi, lặng lẽ như cái bóng, mỗi khi đi ngang qua ngôi nhà xưa, nghe tiếng chuông mõ gõ đều đều, âm thanh đó như nhắc nhớ tôi về cái gọi là quy luật nhân quả. “Đời cha ăn mặn đời con khát nước” mà.


Theo Khánh Trinh

Nguồn: "Gặp nghiệp chướng vì giật chồng người khác" của tác giả Khánh Trinh trên vnexpress

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015




Có lẽ bạn khó tin được nơi tôi ở chỉ là một căn gác trọ có diện tích chưa tới 12m2. Tôi làm việc ở đó, ngủ nghỉ cũng ở đó, kể cả đọc kinh, niệm Phật, hành thiền cũng tại chỗ đó. Ngôi nhà cũng chính là đạo tràng của tôi.

Lúc đầu khi mới về đây tôi cảm thấy rất khó chịu, lòng phiền muộn vô cùng. Căn gác vừa chật hẹp, vừa thiếu không khí, ánh sáng, xung quanh toàn đồ đạc, suốt ngày phải mở quạt vì quá nóng. Nhưng rồi nghĩ lại, đây đó còn biết bao kẻ lang thang không nhà, tối đến nằm ngủ nơi trạm xe buýt, nơi ghế đá công viên hoặc trước mái hiên nhà người khác, không mùng màn, chiếu chăn, chịu cái lạnh của gió sương, bị côn trùng cắn đốt… Mỗi ngày phải lê thân trên đường phố đầy bụi bặm, tiếng ồn tìm miếng ăn cho qua cơn đói rét. Xét lại thấy mình vẫn còn hạnh phúc hơn nhiều người, sao lại buồn lại tủi. Phải để tâm tư, tình cảm hướng về những người bất hạnh hơn mình, cảm thông và cầu phúc cho họ, chia sẻ với họ nếu có thể. Đối với họ dù chỉ một tấm chăn, manh chiếu, ly nước, ổ bánh mì cũng quý báu biết bao.

Phải chăng sống trong hoàn cảnh thiếu thốn, khó khăn thì không có hạnh phúc? 

Các bậc xuất gia tu hành cũng sống trong hoàn cảnh thiếu thốn và không được thoải mái như thế (dưới cái nhìn của người thế gian) nhưng vẫn thấy an vui. Vào Tăng xá của các trường Phật học, thấy mỗi vị xuất gia chỉ ngủ trên một cái đơn (giường hoặc bộ ván) vừa đủ cho một người nằm, đến bữa ăn chỉ ăn chay thanh đạm, quanh năm suốt tháng chẳng hưởng thụ dục lạc thế gian, thế mà các vị ấy không thấy chi là khổ.  

Nhớ lại Đức Phật và các đệ tử của Ngài khi xưa, trên đường du phương giáo hóa, các Ngài cũng ngủ dưới gốc cây, ăn dưới gốc cây và tu tập dưới gốc cây, ngoài ra không có gì cả, thế mà tâm các vị ấy an lạc vô cùng. Từ đó cho thấy, nếu biết tu học, chúng ta có thể tìm thấy niềm an lạc từ bên trong (nội tại) không lệ thuộc hoặc liên quan rất ít với hoàn cảnh bên ngoài. 

Niết-bàn của Đức Phật và các vị Bồ-tát thì có mặt ở mọi nơi (vô trụ xứ Niết-bàn). Vậy hoàn cảnh sống có can hệ gì? Tuy nhiên một kẻ phàm phu như tôi thì chưa được như vậy. Chỉ biết rằng thấy như thế, hiểu như thế để tâm mình bình an và hoan hỷ chấp nhận, không thấy phiền não khổ sở khi mình phải sống trong hoàn cảnh khó khăn, khắc nghiệt.  

Tôi thường quán niệm, mình gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống nhưng không vì thế mà không có hạnh phúc. Con người khó có đầy đủ quyền lực, địa vị, tiền tài theo ý muốn của mình nhưng rất dễ có được những cảm giác hạnh phúc. Nhưng những ai lầm tưởng, đánh đồng hạnh phúc với những điều kiện bên ngoài thì không bao giờ có được thứ hạnh phúc từ bên trong tâm hồn. 

Hạnh phúc do các điều kiện bên ngoài đem lại rất mong manh, tạm bợ, nó sẽ biến mất một khi hoàn cảnh và các điều kiện bên ngoài thay đổi. Nhưng hạnh phúc trong tâm mình thì khác, nó có thể xuất hiện mọi lúc, mọi nơi. Cho nên các bậc hiền thánh xưa nay sống đời sống đạm bạc nhưng luôn an vui tự tại. Tự tại ở đây là tâm tự tại, không bị ràng buộc, lệ thuộc hoàn cảnh bên ngoài. Nếu tâm đã tự tại thì thân và hoàn cảnh cũng không thành vấn đề. Các bậc hiền thánh luôn sống với niềm an lạc hạnh phúc bên trong tâm mình. Và niềm an lạc hạnh phúc đó thể hiện qua ánh mắt, nụ cười, nét mặt, dáng đứng dáng đi, sự lan tỏa ảnh hưởng đến mọi người xung quanh. 

Tôi nghĩ mình phải học cách khơi nguồn hạnh phúc vốn có sẵn nơi tâm mình và luôn sống với niềm hạnh phúc đó, chỉ như thế mới có được sự an vui bền vững lâu dài và không mấy lệ thuộc hoàn cảnh bên ngoài nữa.

Theo Minh Hạnh Đức.

Nguồn: giacngo.vn
Tôi đã tìm một người thầy thông thái và đạo hạnh xin chỉ bảo: -Vì sao những người lương thiện như con lại thường xuyên cảm thấy khổ, mà những người ác lại vẫn sống tốt vậy?   


Thầy hiền hòa nhìn tôi trả lời:

- Nếu một người trong lòng cảm thấy khổ, điều đó nói lên rằng trong tâm người này có tồn tại một điều ác tương ứng. Nếu một người trong nội tâm không có điều ác nào, như vậy, người này sẽ không có cảm giác thống khổ. Vì thế, căn cứ theo đạo lý này, con thường cảm thấy khổ, nghĩa là nội tâm của con có tồn tại điều ác, con không phải là một người lương thiện thật sự. Mà những người con cho rằng là người ác, lại chưa hẳn là người thật sự ác. Một người có thể vui vẻ mà sống, ít nhất nói rõ người này không phải là người ác thật sự.

Có cảm giác như bị xúc phạm, tôi không phục, liền nói:

-Con sao có thể là người ác được? Gần đây, tâm con rất lương thiện mà!

Thầy trả lời:

-Nội tâm không ác thì không cảm thấy khổ, con đã cảm thấy khổ, nghĩa là trong tâm con đang tồn tại điều ác. Con hãy nói về nỗi khổ của con, ta sẽ nói cho con biết, điều ác nào đang tồn tại trong con.

Tôi nói:

-Nỗi khổ của con thì rất nhiều! Có khi cảm thấy tiền lương thu nhập rất thấp, nhà ở cũng không đủ rộng, thường xuyên có “cảm giác thua thiệt”. Bởi vậy trong tâm con thường cảm thấy không thoải mái, cũng hy vọng mau chóng có thể cải biến tình trạng này. Trong xã hội, không ít người căn bản không có văn hóa gì, lại có thể lưng quấn bạc triệu, con không phục. Một trí thức văn hóa như con, mỗi tháng lại chỉ có một chút thu nhập, thật sự là không công bằng; người thân nhiều lúc không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái…

Cứ như vậy, lần lượt tôi kể hết với thầy những nỗi thống khổ của mình.

Thầy gật đầu, mỉm cười, một nụ cười rất nhân từ đôn hậu, người từ tốn nói với tôi:

- Thu nhập hiện tại của con đã đủ nuôi sống chính con và gia đình. Con còn có cả phòng ốc để ở, căn bản là đã không phải lưu lạc nơi đầu đường xó chợ; chỉ là diện tích hơi nhỏ một chút, con hoàn toàn có thể không phải chịu những khổ tâm ấy.

-Nhưng, bởi vì nội tâm con có lòng tham đối với tiền tài và của cải, cho nên mới cảm thấy khổ. Loại lòng tham này là ác tâm, nếu con có thể vứt bỏ ác tâm ấy, con sẽ không vì những điều đó mà cảm thấy khổ nữa.

- Trong xã hội có nhiều người thiếu văn hóa nhưng lại phát tài, rồi con lại cảm thấy không phục, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị cũng là một loại ác tâm. Con tự cho mình là có văn hóa, nên cần phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngạo mạn. Tâm ngạo mạn cũng là ác tâm. Cho rằng có văn hóa thì phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngu si; bởi vì văn hóa không phải là căn nguyên của sự giàu có, kiếp trước làm việc thiện mới là nguyên nhân cho sự giàu có của kiếp này. Tâm ngu si cũng là ác tâm!

- Người thân không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái, đây là không rộng lượng. Dẫu là người thân của con, nhưng họ vẫn có tư tưởng và quan điểm của riêng mình, tại sao lại cưỡng cầu tư tưởng và quan điểm của họ bắt phải giống như con? Không rộng lượng sẽ dẫn đến hẹp hòi. Tâm hẹp hòi cũng là ác tâm.

Sư phụ tiếp tục mỉm cười:

- Lòng tham, tâm đố kỵ, ngạo mạn, ngu si, hẹp hòi, đều là những ác tâm. Bởi vì nội tâm của con chứa đựng những ác tâm ấy, nên những thống khổ mới tồn tại trong con. Nếu con có thể loại trừ những ác tâm đó, những thống khổ kia sẽ tan thành mây khói.”

- Con đem niềm vui và thỏa mãn của mình đặt lên tiền thu nhập và của cải. Con hãy nghĩ lại xem, căn bản con sẽ không chết đói và chết cóng; những người giàu có kia, thật ra cũng chỉ là không chết đói và chết cóng. Con đã nhận ra chưa, con có hạnh phúc hay không, không dựa trên sự giàu có bên ngoài, mà dựa trên thái độ sống của con mới là quyết định. Nắm chắc từng giây phút của cuộc đời, sống với thái độ lạc quan, hòa ái, cần cù để thay thế lòng tham, tính đố kỵ và ích kỷ; nội tâm của con sẽ dần chuyển hóa, dần thay đổi để thanh thản và bình an hơn.

-Trong xã hội, nhiều người không có văn hóa nhưng lại giàu có, con hãy nên vì họ mà vui vẻ, nên cầu chúc họ càng giàu có hơn, càng có nhiều niềm vui hơn mới đúng. Người khác đạt được, phải vui như người đó chính là con; người khác mất đi, đừng cười trên nỗi đau của họ. Người như vậy mới được coi là người lương thiện! Còn con, giờ thấy người khác giàu con lại thiếu vui, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị chính là một loại tâm rất không tốt, phải kiên quyết tiêu trừ!”

- Con cho rằng, con có chỗ hơn người, tự cho là giỏi. Đây chính là tâm ngạo mạn. Có câu nói rằng: “Ngạo mạn cao sơn, bất sinh đức thủy” (nghĩa là: ngọn núi cao mà ngạo mạn, sẽ không tạo nên loại nước tốt) người khi đã sinh lòng ngạo mạn, thì đối với thiếu sót của bản thân sẽ như có mắt mà không tròng. Vì vậy, không thể nhìn thấy bản thân có bao nhiêu ác tâm, sao có thể thay đổi để tốt hơn. Cho nên, người ngạo mạn sẽ tự mình đóng cửa chặn đứng sự tiến bộ của mình. Ngoài ra, người ngạo mạn sẽ thường cảm thấy mất mát, dần dần sẽ chuyển thành tự ti. Một người chỉ có thể nuôi dưỡng lòng khiêm tốn, luôn bảo trì tâm thái hòa ái từ bi, nội tâm mới có thể cảm thấy tròn đầy và an vui.

-Kiếp trước làm việc thiện mới chính là nguyên nhân cho sự giàu có ở kiếp này, (trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu). Mà người thường không hiểu được nhân quả, trồng dưa lại muốn được đậu, trồng đậu lại muốn được dưa, đây là thể hiện của sự ngu muội. Chỉ có người chăm học Phật Pháp, mới có được trí huệ chân chính, mới thật sự hiểu được nhân quả, quy luật tuần hoàn của vạn vật trong vũ trụ, nội tâm mới có thể minh tỏ thấu triệt. Để từ đó, biết làm thế nào lựa chọn tư tưởng, hành vi và lời nói của mình cho phù hợp. Người như vậy, mới có thể theo ánh sáng hướng đến ánh sáng, từ yên vui hướng đến yên vui.”

-Bầu trời có thể bao dung hết thảy, nên rộng lớn vô biên, ung dung tự tại; mặt đất có thể chịu đựng hết thảy, nên tràn đầy sự sống, vạn vật đâm chồi! Một người sống trong Thế giới này, không nên tùy tiện xem thường hành vi và lời nói của người khác. Dẫu là người thân, cũng không nên mang tâm cưỡng cầu, cần phải tùy duyên tự tại! Vĩnh viễn dùng tâm lương thiện giúp đỡ người khác, nhưng không nên cưỡng cầu điều gì.

-Nếu tâm một người có thể rộng lớn như bầu trời mà bao dung vạn vật, người đó sao có thể khổ đây?

Vị thầy khả kính nói xong những điều này, tiếp tục nhìn tôi với ánh mắt đầy nhân từ và bao dung độ lượng.

Ngồi im lặng hồi lâu…xưa nay tôi vẫn cho mình là một người rất lương thiện, mãi đến lúc này, phải! Chỉ đến lúc này, tôi mới biết được trong tôi còn có một con người rất xấu xa, rất độc ác! Bởi vì nội tâm của tôi chứa những điều ác, nên tôi mới cảm thấy nhiều đau khổ đến thế. Nếu nội tâm của tôi không ác, sao tôi có thể khổ chứ?

Xin cảm tạ thầy, nếu không được người khai thị dạy bảo, con vĩnh viễn sẽ không biết có một người xấu xa như vậy đang tồn tại trong con!

Theo Tâm Lê Minh.

Nguồn:  phatgiaovietnam.vn.
               Thơ và hình "Khổ tâm" của Thơ Hoang Hai.