Đôi lời giãi bày: Tôi tên là Phạm Quang Bình, pháp danh Hữu Minh. Câu
chuyện mà quý vị sẽ đọc dưới đây là một câu chuyện có thật đã xảy đến
với tôi và gia đình tôi, trải dài từ thời niên thiếu cho đến lúc tôi
trưởng thành đến bây giờ đã hơn ba thập kỷ. Chỉ vì u minh không tin luật
nhân quả nên từ bé tôi đã bắt đầu sát sinh nên sau này phải nhận chịu
quả báo.
Kính khuyên mọi người hãy dừng sát sanh, tập ăn chay, phóng sinh cứu
vật, niệm Phật và hồi hướng công đức lành ấy đến cho mọi loài. Nếu làm
được thế không những chúng ta có thể chuyển được nghiệp sát đoản mệnh
của mình thành trường thọ khoẻ mạnh ít tật bệnh, mà thế giới sẽ không
bao giờ xảy ra chiến tranh giết chóc lẫn nhau và hoà bình sẽ vĩnh viễn
tồn tại nơi thế gian này.
Tôi sinh ra và lớn lên tại Nha Trang, nơi có bãi biển nổi tiếng dài và
đẹp. Nhà tôi không cách xa biển là bao nên thuở bé tôi thường hay xuống
biển bơi lội vẫy vùng mỗi ngày, vì thế nên tôi bơi lội rất giỏi. Cũng
nhờ bơi giỏi nên tôi thường lặn ngụp dưới làn nước sâu để đâm cá hay cua
ghẹ thường xuyên. Từ thói quen giết vật như thế đã huân tập cho tôi tập
khí sát sanh từ thời niên thiếu mà chính tôi chẳng hay vì xung quanh
tôi bạn bè hay người lớn ai cũng đều như thế. Mỗi lần theo gia đình về
quê tôi thấy các trẻ chăn trâu câu cá vui quá nên rất ham thích và cũng
vào nhập hội câu chung. Ở nhà mỗi khi thấy bầy kiến lửa ở góc sân là tôi
đốt đèn cầy, kế đó nhễu xuống khiến đàn kiến chết quăn chân cẳng. Nếu
không đốt đèn cầy thì cũng lấy thau hứng nước cho đầy, rồi đổ cho ngập
tổ kiến. Nhìn thấy đàn kiến lửa bị ngập nước mà vẫn bò qua lại dưới nước
được tôi lại càng thấy thích thú. Có lẽ đó là cái nhân khiến giờ đây
tôi phải trả quả báo về tim mạch, hơi thở của tôi hệt như người chết
đuối hụt hơi, đang lặn ngụp vùng vẫy dưới nước.
Có một thời gian khoảng hơn năm tôi ở Phi Luật Tân, nhà ở gần mép biển
nên tôi hay theo đám bạn cùng lứa xuống biển bắt hải sản về cải thiện
bữa ăn. Lần sát sanh nhiều nhất là đi săn chình. Loài cá chình con chưa
lớn nên không sống ở vùng nước sâu mà chỉ hay đào lỗ sống ở vùng nước
cạn và đương nhiên đã trở thành món mồi ngon cho đám “sát thủ” tụi tôi
lúc bấy giờ. Buổi trưa là lúc thủy triều hạ nên cả đám xách xô đi săn
chình. Chúng tôi mỗi đứa xách 1 cái xô, cầm theo 1 cây xiên, trên đầu
gắn cây sắt đã được mài nhọn dùng để đâm chình. Vì nước cạn chỉ cao đến
đầu gối nên rất dễ thấy các lỗ cát nơi chình con ở. Thế là chúng tôi chỉ
việc đâm xiên xuống lỗ là hầu như trúng con mồi. Chỉ một buổi trưa là
xô đầy ắp chình, đem về nấu cháo chình ăn mấy ngày mới hết. Lúc ấy tôi
đơn giản nghĩ đó chỉ là một bữa ăn ngon, chẳng ngờ sau này tôi phải bị
quả báo.
Rời Phi Luật Tân tôi đến Mỹ định cư tại tiểu bang Washington khi tôi
khoảng 14 – 15 tuổi không người thân và gia đình. Vì còn nhỏ ở lứa tuổi
vị thành niên nên tôi được ở chung nhà với gia đình bảo trợ. Nhà ông bảo
trợ có một chiếc tàu lớn gồm 3 phòng ngủ. Mùa hè ông hay kéo tàu ra hồ
lớn để câu cá và mọi người cũng theo ông đi câu. Thế là sát cá từ bên
nhà, sang Mỹ tôi lại tiếp tục sát cá. Có một hôm đi câu cá trê, loài cá
này có sở thích là ban đêm mới bơi ra đi tìm thức ăn, ban ngày thì đi
đâu mất. Đêm ấy đang chờ câu tự dưng tôi buồn ngủ quá nên ngủ quên trên
tàu đến sáng. Buổi sáng hôm sau lúc tôi thức dậy nhìn quanh sàn tàu thấy
la liệt thùng nhựa đựng cá cỡ lớn, bên trong chứa rất nhiều cá trê.
Nghe mọi người kể lại đêm hôm trước trúng lớn vì cá đi ăn đêm rất nhiều.
Ai cũng được cá cắn câu nên giựt cần liên hồi. Nghe vậy tôi cứ chậc
lưỡi hít hà vì tiếc rẻ không chịu ráng thức để câu. Bây giờ nghĩ lại mới
thấy mình vô cùng may mắn, nhờ bị ngủ quên chứ nếu không nghiệp sát của
tôi cứ thế lại chồng chất nhiều thêm.
Vào trung học, những lúc rảnh rỗi chúng bạn rủ tôi đi mua súng hơi bắn
chim. Vậy là tôi cũng đi mua cây súng mạnh nhất hồi ấy để vào rừng bắn
chim. Vì súng mạnh nên chim đậu cao và xa cách mấy cũng bị tôi bắn
trúng. Vài tháng sau đứa bạn thiếu tiền lén cầm cây súng đi bán khiến
tôi cứ hậm hực vì tiếc cây súng tốt. Sau này tôi mới thấy đó lại là một
điều may mắn, nếu không tôi đã tiếp tục sát sanh không biết đến bao giờ
mới dừng lại.
Khi học hết phổ thông, muốn học tiếp lên đại học nhưng tôi không có tiền
nên khi ấy nghe nói đi đánh bắt hải sản ở tiểu bang Alaska kiếm rất
nhiều tiền, ước mộng muốn kiếm tiền nhanh để được học đại học đã thôi
thúc tôi lên đường. Tôi được đưa lên một chiếc thuyền để làm và đóng gói
cua nước mặn. Chiếc thuyền tôi làm rất lớn, họ chuyên đi vòng vòng trên
biển Bearing Sea (giữa Liên Xô và tiểu bang Alaska của Mỹ) để mua lại
cua từ những thuyền nhỏ hơn chuyên đánh bắt cua ngay trên biển. Loài cua
sống ở vùng nước mặn và lạnh này rất to, thịt rất ngon nên bán rất
nhiều tiền. Mỗi con cua trung bình ước lượng khoảng 1,5 kg trở lên. Con
nào nhỏ không đủ cỡ là phải quăng lại xuống biển, và chỉ được bắt cua
đực, không được bắt cua cái để còn sinh đẻ. Nếu làm trái luật sẽ bị phạt
nặng. Người Nhật rất thích ăn loại cua này nên họ cử người từ bên Nhật
sang để trông coi và mua ngay sau khi những nhân viên làm việc trên tàu
như tôi đã thịt cua và sắp xếp ngăn nắp vào thùng. Mọi công việc từ mua
cua, giết cua, sắp xếp vào thùng cho đến lúc bán đều xảy ra ngay trên
biển. Sau 1 năm làm việc tôi cầm hơn 20 nghìn đô trở về, mua 1 chiếc xe
và đi học lại. Năm đó tôi tròn 20 tuổi. Khi ấy tôi nào có biết đến Phật
pháp là gì, Phật A Di Đà là ai, chùa chiền cũng không biết ở đâu để tìm
đến nên cứ vô tư mà tạo nghiệp. Giờ nghĩ lại tôi mới thấy vô cùng hổ
thẹn và tội lỗi ngập tràn. Đó là lần sát sanh nhiều nhất trong đời tôi
và cũng là điều tôi ân hận nhất trong cuộc đời. Nếu ước tính có lẽ đã có
cả nghìn chú cua không may bị tôi làm thịt để xuất khẩu sang Nhật.
Sau 1 năm làm việc tại tiểu bang Alaska, tôi về lại tiểu bang cũ
Washington. Ban ngày đi học, buổi tối tôi đi làm thêm bán thời gian tại
một nhà hàng ăn uống hải sản để trang trải chi phí ăn học và thuê nhà.
Nơi tôi làm việc là một nhà hàng sang trọng nằm bán phần trên biển. Phần
lớn thực khách là giới thượng lưu. Tàu thuyền chạy trên biển có thể ghé
sát nhà hàng rồi neo lại để vào ăn uống bên trong. Nhìn bãi đậu xe của
nhà hàng là người ta có thể đoán ra những người ngồi bên trong nhà hàng
thuộc tầng lớp nào. Xe nào cũng đẹp và đắt tiền từ những hãng chế tạo ô
tô nổi tiếng như Mercedes, BMW, Lexus, Porche… Nhân viên bên trong nhà
hàng là những người được tuyển chọn kỹ càng, có học vấn và kỹ năng giao
tiếp khá, vô cùng lịch sự. Phần lớn họ là giáo viên đi làm thêm ngoài
giờ để tăng thu nhập vì tiền tip (boa) mỗi đêm khá nhiều.
Tôi làm ở khâu hậu cần, tức nấu bếp nên có thêm nhiều cơ hội để tiếp
tục… sát sanh. Thực đơn nhà hàng đa số là hải sản trong đó có tôm hùm và
cua vua Alaska (king crab). Ai muốn ăn thịt bò cũng có vì đã được nhà
hàng nhập từ nơi khác về. Loại hảo hạng được cắt, cân từng miếng rất đẹp
và hấp dẫn. Là dân nấu bếp nên một trong các quyền lợi là được ăn miễn
phí. Thích món nào là tôi lôi ra “chén”. Có khi muốn ăn những thứ không
có trên menu thì cả đám thợ nấu chúng tôi tự chế, rồi lôi soong chảo ra
tự biên tự diễn. Một trong các món ăn của thực khách ở đây đòi hỏi sự
tươi sống là món hào. Món này chỉ khi có khách gọi mới lấy hào ra làm
chứ không được làm trước. Mỗi đĩa gồm có 7 con hào lớn, tôi phải dùng
dao chuyên dụng nạy nửa vỏ hào ra bỏ đi, nửa còn lại dính vào con hào.
Sau đó dùng dao mỏng cắt đi phần nối liền giữa thịt hào và vỏ hào để
không bị dính. Giai đoạn cuối là vắt chanh vào phần thịt hào và khách cứ
thế mà húp hào sống. Mỗi lần vắt chanh vào là tôi thấy con hào co rúm
lại vì đau rát sau khi bị cắt lìa. Giờ đây nghĩ lại và tưởng tượng chính
tôi là những chú hào đáng thương kia mà tôi cảm thấy xót xa tận cõi
lòng. Tội nghiệp này không biết tôi phải chịu đầu thai làm thân súc sanh
để bị bắt, bị giết không biết đến bao kiếp mới trả hết được món nợ sinh
mạng? Trong đời tôi tất cả loài vật sống ở trên trời, dưới nước, hay
trên cạn tôi đều đã giết cả. Giả như lúc trước đưa số mạng của tôi cho
nhà tướng số học, chắc chắn tôi sẽ được biết tôi là người yểu mệnh, mạng
chẳng thể trường thọ. May nhờ chút phước thừa từ tiền kiếp sót lại nên
bây giờ tôi biết được Phật pháp, biết pháp môn Tịnh Độ để tu. Cũng nhờ
biết Phật pháp mà tôi mới biết thương các loài vật, không ăn thịt và giữ
giới sát. Có lẽ nhờ đó nên mạng sống của tôi mới kéo dài đến bây giờ,
bằng không tôi đã phải ra đi từ lâu. Từ nhỏ đến lớn tôi sát sanh quá
nhiều, từ muỗi mòng, kiến, chuồn chuồn, thằn lằn, chim, cua, cá… tôi đều
không từ nên bây giờ trong người đủ thứ bệnh. Tôi ra vào bệnh viện để
mổ hết 2 lần vì căn bệnh hernia. Hernia là chứng bệnh tạm gọi là bị rách
cơ thịt. Các nơi trên cơ thể có cơ mỏng như vùng bụng, rốn, háng có
nguy cơ bị bệnh này nhiều hơn các nơi khác. Khi bị rách cơ thịt, ruột
trong cơ thể bị đẩy ra ngoài, chạm vào da rất đau. Ngày nay nhờ ngành y
khoa tiến bộ nên có thể điều trị căn bệnh đó một cách dễ dàng. Khi vào
bệnh viện, bác sĩ sẽ mổ nơi bị hernia ra, sau đó bỏ một miếng vá đặc
biệt bên dưới da và khâu lại tựa như chiếc áo rách phải dùng một miếng
vải khác vá chồng lên để áo không bị rách thêm vậy.
Có 1 chứng bệnh này rất lạ, tôi bị từ năm lên 15 tuổi cho đến khi ngoài
40 mà bác sĩ mãi không tìm ra. Mỗi lần vào nhà vệ sinh đại tiện là máu
tươi đỏ ối cứ tuôn ra ngoài rất nhiều, mỗi tuần ít nhất một lần. Ở lứa
tuổi thiếu niên nên khi bị như thế tôi hoang mang vô cùng. Đi bác sĩ cho
uống thuốc hay thoa thuốc gì cũng không hết. Cứ thế từ ngày này qua
ngày khác, năm này sang năm khác bệnh lạ cứ kéo dài. Tôi thăm hết bác sĩ
Ta đến bác sĩ Tây, dùng thuốc Tây sang thuốc Bắc mà không thấy “xi nhê”
gì cả. Có bác sĩ bảo là mạch máu bị vỡ, có bác sĩ bảo do rách màng da,
đọc báo thì nói rằng đó là triệu chứng đầu tiên của ung thư ruột… Thời
gian đầu tôi lo lắng nhiều lắm, nhưng sau nhiều năm như thế tôi cũng
quen dần và tập “sống chung với lũ”. Cho đến thời gian gần đây tôi mới
chợt nhận ra các triệu chứng ấy bỗng dưng không chữa lại lành một cách
thần kỳ. Tôi nghĩ có lẽ một phần là nhờ công đức giữ giới sát, ăn chay,
sám hối, niệm Phật, hồi hướng công đức cho hết thảy chúng sinh. Phần
khác có thể liên quan đến chuyện mẫu thân của tôi bị bệnh nặng mà căn
bệnh trầm kha của tôi tự nhiên khỏi hẳn.
Đầu năm 2009 được tin thân mẫu bên nhà bệnh nặng có thể không qua khỏi
tôi vội vàng quay về để thăm hỏi bệnh tình. Mẫu thân tôi bị ung thư bướu
cổ, bác sĩ phát hiện ra từ năm 1997 và phải mổ hết đôi lần. Nhưng không
may là mổ xong bướu này thì bướu khác mọc lên. Uống thuốc mỗi ngày chỉ
làm cho bớt đau và khối u mọc chậm lại chứ không bao giờ hết.
Từ Mỹ về đến nhà, nhìn mẫu thân mà tôi xém chút nhìn không ra đó chính
là mẹ ruột của mình. Ngày trước cụ có da có thịt lắm, nhưng lần cuối
nhìn lại mẫu thân thì như chỉ còn da bọc xương giống người lâu ngày bị
bỏ đói. Trước khi bay về Việt Nam một ngày, tôi đã tìm địa chỉ các Ban
Hộ Niệm (BHN) tại địa phương và liên lạc trước để nhờ họ đến hộ niệm cho
mẫu thân. May mắn thay tôi tìm được BHN Thanh Liên tại Nha Trang và chị
trưởng ban cũng nhiệt tình nhận lời đến hộ niệm.
Từ ngày biết đến Phật pháp và pháp môn Tịnh Độ tôi thường hay gọi điện
thoại và gửi thư về cho mẫu thân, nhắc nhở cụ niệm Phật cầu vãng sanh,
nhưng tiếc rằng thiện căn, phước đức của cụ còn ít quá nên cụ niệm Phật
có lẽ không được là bao. Tôi nhớ ngày còn nhỏ tôi thường hay quấn quít
bên mẫu thân và thấy cụ cắt cổ gà, làm thịt tại nhà đôi lần. Có lần cụ
cắt tiết con gà xong, bỏ vào nồi đậy lại. Vậy mà một tiếng sau, khi đổ
nước sôi vào để làm lông thì bỗng dưng nắp nồi bật tung lên, kế đó con
gà vùng dậy, đầu ngật ngưỡng tung chạy ra ngoài làm mọi người phải rượt
theo bắt và giết lần nữa. Có thể vì mang nghiệp như thế nên giờ cụ đã bị
ung thư bướu cổ. Cục bướu của cụ rất to, cỡ bằng trái bưởi nhìn rất
kinh sợ. Máu rỉ ra từ nơi bướu đóng cứng thành cục. Những tháng cuối
cùng của đời cụ máu cứ rỉ ra từng giọt từ bướu khiến người trong nhà
phải may một cái bao vải đặc biệt để thấm máu, đeo vào cổ mẫu thân. Vài
tiếng là phải thay bao vải một lần. Cảnh vật ấy khiến tôi liên tưởng đến
con gà năm xưa bị mẫu thân cắt tiết, máu chảy ra từng giọt rớt xuống
chiếc tô hứng bên dưới để làm tiết canh.
Tôi có người em trai đã có gia đình và 3 đứa con trai. Nhà tôi có truyền
thống thờ Phật từ hồi thân phụ tôi còn sống. Ông cụ tạo dựng một bàn
thờ Quan Thế Âm Bồ Tát rất lớn và trang nghiêm nhất nhì trong thành phố
thời bấy giờ. Thân phụ tôi bỏ công đi sưu tầm các lư đồng chạm trổ rất
đẹp và công phu từ các bàn tay nghệ nhân khéo léo về để trang nghiêm nơi
thờ phượng. Thỉnh thoảng tôi thấy ông cụ tụng kinh vào những ngày rằm
lớn. Còn mẫu thân của tôi cũng là một Phật tử thuần thành và rất thích
đi chùa làm công quả.
Bàn thờ trong nhà tôi rất lớn và nghiêm trang đến độ sau này khi anh rể
tôi trong lần về thăm nhà, anh em ngồi nói chuyện vui với nhau thì được
nghe anh kể lại, hồi ấy anh “kết” chị tôi nhưng khi đến nhà không dám
vào, vì anh là người công giáo. Anh nói hồi đó vừa mới bước vào cửa là
thấy ngay bàn thờ Phật lớn quá làm anh “khiếp” nên không dám bước tiếp.
Dưới nơi thờ phượng có một tủ gỗ đựng nhiều kinh sách Phật. Thời ấy
trong nhà tôi sách thiếu nhi không có nên không có gì để đọc, thế là tôi
cứ lôi mấy cuốn sách mỏng nói về nhân quả, đời là bể khổ ra xem. Không
ngờ những điều đã đọc ngày xưa ấy lại gieo vào tâm tôi những hạt giống
tốt cho dù tôi đi đến tận phương trời nào.
Tuy gia đình tôi thờ phượng sớm hôm nhang đèn như thế, nhưng em trai của
tôi lại không tin Tam Bảo. Chỉ được một điều là mỗi năm vào dịp Tết em
trai tôi cũng chịu khó đem hết đồ đồng, lư hương trên bàn thờ xuống đánh
bóng lại cho mới để đón Xuân. Ngoài ra hễ nói chuyện Phật pháp hay bảo
tu hành thì tuyệt nhiên không chịu. Mỗi lần gọi điện thoại về tôi gắng
khuyên mẫu thân niệm Phật để sau này được về với Phật, em trai tôi có vẻ
không bằng lòng. Em trai tôi bảo gọi điện về nói chuyện gì quan trọng
hay hữu ích thì nói, chứ nói làm gì ba thứ chuyện Phật pháp. Còn em dâu
của tôi vốn sanh ra trong một gia đình công giáo, lớn lên trong nhà dòng
dưới sự nuôi nấng và dạy dỗ của các sơ. Ấy vậy mà sau này không hiểu
sao về làm dâu nhà tôi cô ấy chuyển tâm quay sang quy y Phật. Hài hước
thay khi trong gia đình tôi có sự đổi ngôi như thế. Ngày trước lúc mẫu
thân tôi còn khỏe, cụ lén lên chùa nhờ các thầy đặt pháp danh và quy y
Tam Bảo vắng mặt cho cậu em trai của tôi. Mãi đến sau này em trai tôi
lục lọi trong tủ, tìm thấy tấm giấy quy y có ghi tên của nó trên ấy, thế
là em trai tôi có vẻ không hài lòng và gặng hỏi mọi người ai đã làm
điều ấy.
Trong những lần tôi về thăm nhà trước kia, những câu chuyện tán
gẫu giữa hai anh em với nhau giúp cho tôi thấy dường như tâm ý của em
trai tôi chỉ thích hai thứ đó là: xe mô tô và tiền bạc. Biết được điều
này nên khi hay tin bệnh tình mẫu thân đã đến lúc nguy kịch phải thở
ôxy, tôi xin phép sở làm nghỉ 3 tuần để về Việt Nam và đem theo nhiều tiền làm lộ phí. Biết tính em trai nên từ Mỹ về đến nhà, sau khi thăm hỏi
bệnh tình thân mẫu xong tôi biết nếu cho mời BHN đến nhà để niệm Phật
cho mẫu thân thế nào cũng bị làm khó dễ, tôi đã tương kế tựu kế bằng
cách “hối lộ” cho em trai để mua một chiếc TV và thêm nữa đưa cho cô em dâu để mua thêm hàng hóa buôn bán, vì lúc ấy
cô em dâu mới mở shop bán quần áo và đồ dùng trẻ con. Sau đó chị trưởng
BHN đến nhà, khai thị hộ niệm cho mẫu thân. Em trai tôi có vẻ không vui
vì ngày nào cũng phải canh dắt xe cộ của các chị trong BHN đến nhà trợ
niệm cho mẫu thân, nhưng nhờ có “thủ tục đầu tiên” nên chỉ nghe em trai
tôi càm ràm đôi câu chứ không phản đối. Nhìn bệnh tình của mẫu thân tôi
biết do nghiệp sát trong quá khứ nay quả đã đến lúc chín mùi. Tôi đề
nghị với chị trưởng BHN mua vật phóng sanh, hồi hướng công đức ấy cho
tất cả oán thân trái chủ của mẫu thân để giảm bớt sát nghiệp.
Có một điều tôi nhận thấy lạ là tuy mẫu thân rất ốm chỉ còn da bọc
xương, nhưng sức ăn của cụ gấp ba lần người bình thường. Cứ hai tiếng
đồng hồ lại ăn một lần. Nếu không ăn thì người nhà phải pha sữa uống.
Mỗi ngày mẫu thân phải uống thuốc giảm đau và các cơn đau dường như kéo
đến vào ban đêm làm cụ đau đớn rên la, có khi vừa ôm cổ vừa đi vừa rên
la lúc giữa đêm. Sau mấy hôm nằm cạnh mẫu thân và chứng kiến các hiện
tượng như thế tôi biết mẫu thân đang bị oan gia trái chủ hành hạ. Sức ăn
của mẫu thân không phải của một người già đã 76 tuổi ăn, mà chỉ có thể
là oan gia ăn để có sức đêm đến hành hạ mẫu thân như thế.
Một đêm thấy mẫu thân đang nằm rên la vì đau, tôi đến sát bên giường cụ,
một tay chạm nhẹ vào khối u nơi cổ mẫu thân, tay kia chắp lại, mắt nhắm
nghiền và không hiểu sao trong đầu tôi bắt đầu “nói chuyện” với khối u,
nói bằng tâm thức chứ không phải bằng lời. Tôi nói rằng: “Thưa quý vị
oan gia trái chủ trên thân mẹ tôi, xin quý vị hãy khoan dung tha thứ cho
lỗi lầm của mẹ tôi. Vì vô minh nên trước kia mẹ tôi đã làm tổn hại đến
quý vị. Nay tôi xin thành tâm sám hối thay thế cho mẹ tôi. Tất cả công
đức lành tôi xin hồi hướng đến cho quý vị để quý vị vãng sanh về Thế
Giới Cực Lạc của Phật A Di Đà. Giờ đây tôi xin niệm Chú Vãng Sanh để tất
cả quý vị có thể về với Phật.” Và lúc ấy tôi đã nhiếp tâm vào từng câu
thần chú phát ra từ trong tâm tưởng, cùng lúc quán tưởng từng con vi
trùng từ nơi cổ mẫu thân đang ngự trên hoa sen bay về phía Phật A Di Đà.
Sau này nghĩ lại tôi thấy hơi lạ, vì bình thường tôi chỉ niệm Phật
trong các thời công phu, không niệm thêm bất cứ chú gì cả. Ấy vậy mà
không hiểu vì sao lúc ấy tôi không niệm Phật, mà lại niệm chú. Tôi đã
niệm một lúc lâu như thế, rồi tôi thấy mẫu thân nằm im, không rên la nữa
nên tôi bèn mở mắt ra và hỏi mẫu thân có còn thấy đau nữa không? Mẫu
thân trả lời rằng không. Thì ra khối u cũng có tánh linh và có Phật tánh
giống như chúng ta vậy.
Sau chuyện ấy, tôi dùng hết
vào việc phóng sanh và được chia làm 2 đợt. Buổi sáng hôm ấy tôi cùng
các chị trong BHN ra chợ mua các loài thủy tộc để phóng sanh. Nào cá to,
cá nhỏ, ốc lớn, ốc bé, cua… mua rất nhiều. Chị trưởng BHN đã quen thuộc
với việc làm này nên các thân chủ bán cá đều quen mặt biết tên. Sau khi
mua vật phóng sanh xong, cả nhóm đem hết các túi, thùng đựng cá ra để
tràn lan phía ngoài chợ. Không biết từ đâu có 2 chiếc xe jeep của ban
trật tự đô thị lù lù xuất hiện và dừng lại ngay trước cả nhóm. Tôi nghĩ
thầm chắc là rắc rối to rồi, vì chúng tôi để đồ nhiều quá, chiếm ra gần
hết ngoài đường vào chợ, xe cộ không đi được và sẽ bị ban đô thị “hốt”
hết. Nhìn vẻ mặt hầm hầm của anh trật tự viên tôi cũng hơi ngán. Anh ta
hỏi lớn rằng: “Tất cả đồ để dưới đất này của ai, tại sao lại để ra hết
ngoài đường?” Sau khi nghe nhóm giải thích là mua vật về phóng sanh và
đang chờ xe đến để chở đi thì anh ta tỏ ra dễ dãi rồi bỏ đi mà không nói
thêm một lời nào. Tôi mừng hết chỗ nói vì đã không có điều gì đáng tiếc
xảy ra. Trong khi chúng tôi còn đang loay hoay chưa biết gọi xe đến có
được không thì trong chợ bỗng dưng có một anh mon men lại gần và tự giới
thiệu anh ta là tài xế xe tải, chuyên chở các loại thủy sản để bán cho
các chủ sạp trong chợ. Thấy mọi người mua nhiều để phóng sanh, anh tình
nguyện chở hết các loài vật đi phóng sanh mà không lấy tiền. Không chỉ
lần này mà bất cứ lúc nào mua nhiều như thế anh cũng sẽ tình nguyện
giúp. Đúng là chuyện lạ có thật. Thế là cả hai lần phóng sanh anh ấy đều
tận tình đem xe tải đến giúp thật.
Đường đến nơi phóng sanh cũng hơi xa và phải đi ngang một đoạn đường tư
nhân. Đoạn đường này có một cây sắt chắn ngang giống như hàng rào bảo vệ
mỗi khi có xe lửa đi qua để không cho người lạ vào khu vực ấy. Khi đến
đây cả nhóm đều phải dừng lại và dáo dác tìm xem có ai có thể ra giúp
được không. Hỏi ra thì được biết người chủ khu vực (người duy nhất có
chìa khóa để mở khóa cây sắt chắn ngang) đang đi vắng không có nhà. Thế
là cả bọn nhìn nhau không biết tính sao vì đường đi xa, địa điểm phóng
sanh cũng không còn lâu nữa. Lúc ấy dường như có phép lạ khi từ đằng xa
có bóng một chiếc xe Honda đang rẽ vào con đường cả nhóm đang chờ. Hóa
ra đó chính là người chủ khu vực đã về, tựa như có “người” bảo ông phải
về đúng vào lúc này vậy. Sau khi người chủ khu vực biết rõ nguyện vọng
của nhóm, chú liền hoan hỉ mở cổng cho cả bọn đi qua và cười rất tươi.
Phải mất khoảng gần tiếng đồng hồ cả nhóm mới khiêng hết các loài vật từ
xe xuống để phóng sanh xuống con sông như đã định trước. Mọi người ai
cũng mệt vì trưa nắng nhưng lòng lại vui vì biết rằng đã cứu được rất
nhiều sanh mạng thoát khỏi cảnh bị dao thớt chặt chém. Có một chi tiết
nhỏ nhưng có lẽ cũng là nhân duyên là bữa đó trong lúc cả nhóm vào chợ
mua vật phóng sanh, tự dưng gặp được một nhóm đồng tu khác từ Sài Gòn ra
Nha Trang chơi. Thế là chiều hôm ấy sau khi phóng sanh xong cả 2 nhóm
đều đến nhà hộ niệm cho mẫu thân tôi. Kể ra cụ cũng có phước, nhưng tiếc
rằng không nhiều.
Suốt thời gian tôi ở Việt Nam gần 3 tuần ngày nào BHN cũng đến để trợ
duyên cho mẫu thân niệm Phật. Ngoài thời niệm Phật chung với BHN ra, tôi
cũng cố gắng khai thị thêm và niệm Phật chung với mẫu thân được thêm
đôi tiếng đồng hồ mỗi ngày. Trong phòng nghỉ của mẫu thân tôi dọn hết đồ
đạc ra ngoài chỉ chừa lại cái giường nằm. Trên bốn bức tường đều có
hình Phật A Di Đà đang đưa tay tiếp dẫn để mẫu thân có thể nhìn thấy
Phật khắp nơi. Cẩn thận hơn mỗi ngày tôi đều dặn dò mẫu thân nếu thấy
cha, mẹ, hay phụ thân đã mất của tôi đến để dẫn đi thì đừng đi theo họ
vì đó là oan gia trái chủ trá hình. Chỉ được đi theo Phật A Di Đà mà
thôi. Tôi thường hỏi mẫu thân duy nhất một câu mỗi ngày là: “Phật A Di
Đà màu gì, tướng mạo ra sao?” Mẫu thân cũng chịu khó trả lời rằng: “Phật
A Di Đà mặc áo đỏ, nền vàng, tay trái cầm hoa sen, tay phải duỗi
xuống.” Đó chính là tấm hình Phật được treo trong phòng mẫu thân trên 4
vách tường. Chị trưởng BHN khuyên tôi nên đem hình Tây Phương Tam Thánh
tiếp dẫn vào trong phòng để mẫu thân được nhìn thấy, tôi nghĩ cũng hợp
lý, nhưng lại sợ mẫu thân bị phân tâm khi nhìn thấy nhiều hình Phật khác
nhau nên tôi đã không làm theo ý chị. Hy vọng chị trưởng BHN sẽ hiểu
được nỗi lòng của tôi lúc ấy.
Niệm Phật nhiều như thế được vài hôm bỗng dưng mẫu thân sanh ra giải đãi
không muốn niệm Phật nhiều như trước nữa. Cụ bắt đầu niệm Phật với tâm
trạng uể oải, gượng gạo và vì để tôi vui lòng, chứ không phải là tự bản
thân mẫu thân thích niệm Phật. Thủa còn chưa thành thân với phụ thân
tôi, mẫu thân thường đến chùa và thích nghe pháp của các thầy giảng.
Chính mẫu thân là người đã tập cho tôi có sở thích nghe pháp trong những
lần về thăm nhà và thường đưa các đĩa cassette (khi ấy chưa có đĩa CD
như bây giờ) bên trong là các bài giảng của nhiều vị pháp sư để tôi đem
về Mỹ nghe. Nhưng tiếc rằng mẫu thân chỉ biết tu phước hữu lậu chứ chưa
biết tu phước vô lậu. Bởi tâm mong muốn lành bệnh của mẫu thân dường như
lớn hơn tâm vãng sanh. Mặc dù tôi đã hết lời giảng giải, và BHN cũng
giải thích cho mẫu thân biết rằng khi một chiếc áo đã quá cũ và rách
nát, dù có vá lại nhiều lần để mặc nhưng cuối cùng cũng đến lúc phải bỏ
đi chứ không thể lành mãi được. Thân người cũng thế mà thôi. Ở tuổi
ngoài thất thập cổ lai hy, đời người như ngọn đèn treo trước gió, làm
sao đèn cháy mãi cháy lâu được? Suốt thời gian ở gần mẫu thân, tôi cố
gắng làm hết mọi việc thiện và hồi hướng tất cả công đức cho mẫu thân.
Mỗi đêm trước bàn thờ Phật tôi thành tâm nguyện cầu cho mẫu thân được
vãng sanh trong khoảng thời gian tôi còn ở Việt Nam, càng sớm càng tốt.
Hết tiền phóng sanh tôi xem lại bản thân mình có thể làm gì được hơn nữa
để tạo thêm công đức cho mẫu thân sớm được về với Phật trong thời gian
này. Tôi đã không ngại ngần lên chùa thỉnh thầy cho tôi được xuống tóc
và xin nguyện đem công đức ấy hồi hướng cho mẫu thân. Sau khi tôi xin
thầy cho xuống tóc, suốt mấy ngày liền sau đó tôi cảm nhận phía trên
đỉnh đầu rất nóng. Một cảm giác nóng từ bên trong tỏa ra chứ không phải
do cái nóng bên ngoài của tiết trời tháng Ba tạo thành. Hơi nóng dường
như nóng hơn bao giờ hết mỗi khi tôi ngồi tĩnh tọa niệm Phật. Điều này
cho đến bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao, nhưng tôi đoán có thể do
mới cạo tóc, lại đi dưới trời nắng nóng bên nhà nên bị như thế cũng nên?
Khi tóc không còn tôi lại tiếp tục nhìn xem trên thân mình còn có gì để
có thể bố thí hay cho đi để mong mẫu thân tôi được vãng sanh. Thế là khi
nhìn thấy con dao Thái Lan nhỏ để trên bàn tôi nghĩ ngay đến chuyện
trích máu của mình để viết hồng danh A Di Đà Phật rồi đốt để cúng dường
chư Phật. Nghĩ là làm nhưng do dao xài lâu ngày không còn được bén nên
tôi đã phải cứa đi cứa lại nhiều lần trên đầu ngón tay cho đến lúc tướm
máu. Trước khi làm điều này tôi đã quỳ trước bàn thờ Phật để nguyện một
lời nguyện không thay đổi, rằng tôi chỉ xin hồi hướng công đức này để
mẫu thân được vãng sanh trong thời gian tôi còn ở VN, để tôi có thể lo
cho mẫu thân một cách vẹn toàn. Nhưng tiếc thay, có lẽ lời cầu nguyện
của tôi chưa đủ thành tâm để cảm đến đức Phật.
Có một lần tôi đang ngồi niệm Phật cùng BHN Thanh Liên trong phòng mẫu
thân, mắt tôi hướng lên nhìn hình Phật A Di Đà thì bỗng thấy có điều gì
đó khiến tôi phải chú ý. Kế đó tôi thấy vầng hào quang màu vàng xung
quanh Phật cứ lớn dần và tỏa sáng rực rỡ. Trong lúc ấy mọi người xung
quanh còn đang niệm Phật và không thấy ai khác có cử chỉ gì lạ. Vì vậy
tôi cũng tiếp tục niệm Phật và không nói gì. Cuối buổi hộ niệm không ngờ
chị trưởng BHN tự động tiết lộ rằng chị thấy hào quang của Phật tỏa ra
rất sáng trong lúc niệm hồng danh Phật. Như vậy là chỉ có tôi và chị
trưởng BHN nhìn thấy được điềm lành ấy, ngoài ra không còn ai khác nhận
ra điều đó. Nghe chị nói tôi cũng chỉ mỉm cười nhưng không nói thêm điều
gì và im lặng cho đến tận bây giờ. Qua đó chúng ta biết rằng chư Phật
đã phóng quang hộ trì suốt buổi hộ niệm mà mắt phàm chúng ta không nhìn
thấy được.
Sau thời gian ba tuần ở bên cạnh thân mẫu, ngày ngày cùng BHN niệm Phật,
dường như sức khỏe của mẫu thân có phần tốt hơn chứ không thấy có triệu
chứng vãng sanh, tôi lên đường trở về lại Mỹ và cẩn thận ghi lại tên và
số điện thoại của các chị trong BHN cho cô em dâu, dặn dò khi có chuyện
xảy ra với mẫu thân mà không có BHN ở cạnh bên thì hãy gọi cho BHN,
không nên đưa vào bệnh viện. Tôi cũng dặn em trai như thế vì bình thường
em trai tôi hay nghĩ rằng còn nước còn tát. Tôi bảo em trai rằng đúng
vậy, nếu trong ao còn cá thì mới còn tát, chứ nếu trong ao đã không còn
cá thì có tát nhiều cũng chẳng thu được lợi ích gì. Mẫu thân đã lớn
tuổi, nếu đã đến lúc ra đi thì hãy để mẫu thân đi chứ đừng nên đưa mẫu
thân vào bệnh viện làm gì nữa.
Khoảng một tháng sau đó nghe người nhà nói lại mẫu thân không còn ham
thích niệm Phật cùng BHN nữa nên các chị trong BHN cũng không còn đến
nhà để trợ niệm cho mẫu thân. Nghe đến đây tôi chỉ biết thở dài. Âu cũng
là phước phần của mẫu thân như thế, dẫu cho tôi đã cố gắng tận lực.
Nhưng hàng tháng tôi vẫn gửi tịnh tài về cho chị trưởng BHN làm lễ phóng
sanh hồi hướng công đức cho cụ hầu giảm bớt được tội nghiệp của mẫu
thân được phần nào hay phần nấy.
Vài tháng sau tôi nghe nói bà ra đi, nhưng trước khi bà ra đi may mắn
thay cô em dâu của tôi thuyết phục được con cháu trong gia đình bà cho
mời BHN Thanh Liên đến để trợ niệm cho bà. Không ngờ cô em dâu còn nhớ
lời tôi dặn khi hữu sự hãy gọi điện cho BHN đến để hộ niệm. Thật không
uổng công tôi cẩn thận ghi lại số điện thoại của các chị trong BHN vào
sổ tay của cô ấy. Qua điện thoại, cô em dâu líu lo kể về sự lạ kỳ trong
ngày bà tôi ra đi. Đúng ra là khi nhận một ca hộ niệm nếu BHN thấy người
lâm chung đã rơi vào hôn mê không còn tỉnh táo là họ sẽ không nhận lời
hộ niệm. Nhưng có lẽ do trước khi rời Việt Nam tôi có kể cho chị trưởng
BHN về trường hợp của bà, nên chị có vẻ thông cảm và sau này vì nể tình
mà đến nhà hộ niệm cho bà.
Ngày bà ra đi ngoài thoại tướng mềm mại, cây cối trong nhà bỗng dưng trổ
hoa dù cây mua về đã mấy năm rồi nhưng chưa từng ra hoa lần nào. Chim
chóc từ đâu bỗng bay về đậu lại rất nhiều trên mái nhà. Sau này tôi có
đem điều này hỏi ý kiến cư sĩ Diệu Âm nhân dịp chú đến chùa Phật Quốc
tại tiểu bang Washington, Hoa Kỳ để giới thiệu pháp môn Hộ Niệm thì được
chú ấy xác nhận rằng, căn cứ vào các điềm lành ấy có khả năng bà đã
được vãng sanh.
Trở về Mỹ được 3- 4 tháng tôi được hay tin một ngày nọ cái bướu to trên
cổ mẫu thân bỗng dưng vỡ và máu đen hôi thối chảy ra rất nhiều. Nghe đâu
nhiều đến cả nửa xô nhỏ dùng để đựng nước lau nhà. Như thế là oan gia
trái chủ đã rời khỏi thân thể của mẫu thân và cũng kể từ đó mẫu thân đã
ăn ít lại, giống như chế độ ăn của người cao niên chứ không còn ăn nhiều
như lúc trước nữa.
Cuối năm ấy, vào lúc giữa đêm mọi người trong gia đình tôi đang ngủ thì
nhận được điện thoại từ bên Việt Nam báo tin mẫu thân tôi đã ra đi.
Nhưng cũng may là trước đó vài tiếng đồng hồ cô em dâu đã gọi cho BHN
đến để trợ niệm cho mẫu thân từ lúc hấp hối và 8 tiếng sau đó. Thoại
tướng tương đối tốt khi chân tay mẫu thân đều mềm mại. Tuy rằng mẫu thân
không ra đi trong lúc tôi còn ở Việt Nam như lời nguyện, nhưng có một
điều ứng nghiệm là tôi còn nguyện thêm cho mẫu thân được ra đi vào ban
ngày và có đầy đủ thiện hữu trí thức cạnh bên hộ niệm. Quả thật mẫu thân
đã không ra đi vào ban đêm mà đi vào ban ngày nên hầu như BHN đến nhà
đầy đủ để trợ duyên cho cụ.
Chuyện mẫu thân của tôi có lẽ đã đến hồi kết thúc, nhưng tôi muốn nói
thêm rằng: có lẽ nương nhờ chút công đức phóng sanh ngày ấy cho mẫu thân
mà tôi cũng được hưởng phước lây, bởi căn bệnh lạ tôi phải chịu đựng 25
năm qua bỗng dưng ra đi không nói lời từ biệt.
Cư sĩ Hữu Minh
Nguồn: trích "Câu Chuyện Sát Sanh Và Quả Báo Hiện Tiền" trên duongvecoitinh.com

0 nhận xét:
Đăng nhận xét